BÀI HÁT: CHÚA KHÔNG LẦM
Những
người phong hủi bị khai trừ, sống biệt lập và ngay cả
bị khước từ những quyền căn bản nhất của con người.
Chỉ có phép lạ mới chữa được bênh phong hủi. Và
Chúa Giêsu đã chữa lành cả mười người, nhưng chỉ có
một người trở lại cám ơn Ngài đã chữa lành, thay đổi
toàn vẹn cuộc sống của họ.
Tôi
tin chắc mỗi người trong nhóm của họ vô cùng biết ơn
Ngài, nhưng có chín người không bao giờ nói lên tiếng
cám ơn. Chỉ hai tiếng “cám ơn” đơn giản thôi đã
làm nên điều khác biệt. Hai tiếng đó được nhìn nhận
là những tiếng có thanh sắc nhất trong ngữ vựng chúng
ta. Nhưng khi người ta nghĩ tới sự biết ơn hiếm khi xảy
ra, cho dù xem ra như thế, thật khó khăn khi phải nói lên
hai tiếng “cám ơn”!
Điều
hiếm hoi thì quí hóa
Thật
rất thường tình, người phối ngẫu, anh em, chị em, bạn
bè, bạn đồng nghiệp, người lối xóm… làm cho chúng
ta đôi việc tốt, nhưng chúng ta không thể đáp trả lại
được. Bi kịch cuộc sống là ngay cả chúng ta cũng không
cố gắng đáp trả lại trong hoàn cảnh này, như mấy
vần thơ sau đây:
“Cứ
thổi, thổi đi, hỡi ngọn đông phong,
Ngươi
không đến nỗi tàn nhẫn
Như
sự vô ơn của con người.”
Thánh
Lu-ca không nói cho chúng ta biết là người phong hủi trở
lại cám ơn có được Chúa chúc phúc thêm hay không. Thánh
sử cũng không nói điều gì đã xảy ra cho chín người
kia, không trở lại cám ơn Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh.
Cũng không chút gợi ý gì, chẳng hạn họ bị phong hủi
trở lại hoặc bị phát ra một hình thức bệnh trạng gì
khác.
Chúa
không hờn dỗi. Tặng phẩm của Chúa không bao giờ có
điều ràng buộc theo sau. Khi Chúa ban cho, Ngài cho vô điều
kiện, không hối tiếc, chỉ vì niềm vui trọn vẹn được
chia sẻ thần tính dư dật của Ngài. Trao
đi và nhận lại cách độ lượng.
Khi
người ta ý thức rằng có ai đó biệt đãi mình thì
người ta muốn làm điều gì để đáp lại. Người ta
không nhận quà sinh nhật mà xây lưng đi, không nói lời
gì. Nếu người ta xử sự như thế thì sẽ bị người
đời xem là kỳ dị, nhẫn tâm, vô nhân đạo.
Không,
điều người ta làm là chấp nhận quà tặng và nói “cám
ơn”, không phải vì người ta bắt buộc phải làm như
thế, nhưng vì người ta muốn làm như thế. Đúng thế,
khi người ta ý thức là có người biệt đãi mình, người
ta muốn làm điều gì tích cực để đáp lại.
Giờ
đây, đối với Chúa cũng thế, không khác biệt. Người
ta muốn làm điều đó không phải vì bắt buộc, nhưng vì
người ta muốn thế. Đó là tất cả những gì tôn giáo
đề cập tới. Tôn giáo nói về “Thiên Chúa” và tôn
giáo không nói về “cái tôi”. Tôn giáo đáp lại lòng
tốt và sự quảng đại vô biên của Thiên Chúa.
Người
ta cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài là Thiên Chúa. Người ta
thờ lạy Thiên Chúa vì Ngài đáng được thờ lạy. Người
ta yêu mến Thiên Chúa vì Ngài đáng yêu mến. Người ta
ca tụng Thiên Chúa vì Ngài đáng ca tụng nên người ta
thường cầu xin: “Lạy Chúa! Con cần đến Chúa.” Quả
thật, ngày mà người ta trở về với Chúa và thưa: “Lạy
Chúa! Con cần đến Chúa” thì đó là ngày người ta bắt
đầu trở thành một con người trọn vẹn.
Xin
nhớ đến tôi:
Oscar
Wilde đã viết điều mà ông mô tả như truyện ngắn hay
nhất trên đời. Câu chuyện xảy ra như thế này: Lần
kia Chúa Giêsu đi dọc theo con đường chính băng qua một
tỉnh nhỏ. Ngài đi ngang qua một người say rượu nằm bơ
vơ, ngớ ngẩn, bên vệ đường. Ngài nói: “Anh
ơi, sao anh đã phung phí cuộc đời trong rượu chè?” Người
đàn ông nhìn Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và thưa:“Chúa
ôi, Chúa không nhớ con sao? Con là người phong hủi và
Chúa đã chữa con lành?”
Khi
đi xa hơn một đoạn đường nữa, Chúa Giêsu gặp một
người đàn ông khác đang đi theo một cô gái giang hồ.
Ngài nói: “Anh ơi, sao anh phung phí cuộc đời
trong những tham muốn nhục dục?” Người đàn
ông nhìn Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và thưa: “Chúa
ơi, Chúa không nhớ con sao? Con là người mù và Chúa đã
làm cho con sáng mắt.”
Đi
thêm một đoạn đường nữa, Chúa Giêsu gặp một người
đàn ông thứ ba. Ông ta già cả và dựa vào tường kêu
khóc thảm thiết. Chúa nói: “Bác ơi, sao bác phung
phí cuộc sống, đêm ngày than thân khóc phận?” Cụ
già nhìn quanh, thấy Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và
thưa: “Chúa ôi, Chúa không nhận ra con sao? Con đã
chết và Chúa làm cho con sống lại.”
Oscar Wilde kết thúc câu chuyện cùng một luận điệu như thế.
Nhưng tôi thiết tưởng còn thiếu sót nếu chúng ta dừng
lại nơi đây. Theo tôi tưởng, chúng ta hoàn toàn tự do
thêm vào phần phụ lục của riêng chúng ta.
Giả
thiết Chúa chặn một người trong chúng ta lại, có thể
Ngài sẽ nói: “Tại sao con phung phí đời con?” Và
nếu Ngài nói cùng làm như thế, chúng ta nên trả
lời: “Chúa ôi, Chúa không nhớ con sao? Con là hư
vô và Chúa đã dựng nên con. Chúa đã dựng nên con giống
hình ảnh Ngài. Chúa nâng con lên phẩm giá con cái Thiên
Chúa. Chúa là lý do tại sao con được làm người, tại
sao con được thấy, nghe, đi đứng, nghĩ tưởng, yêu
thương, chọn lựa và mơ ước?” Có thể Chúa sẽ
nói:“Vậy thì tại sao con đã quên Cha? Tại sao con đã
không cám ơn Cha?”
Phần
còn lại
Một
người không có của cải gì hết và Thiên Chúa đã cho
anh ta mười quả táo. Ba quả dùng để ăn nên anh đã ăn
ba quả táo đầu tiên. Ba quả tiếp theo để làm chỗ trú
ẩn, che mưa che nắng. Anh ta đã bán đi để mua chỗ ở.
Chúa cho anh ba quả nữa để sắm áo quần che thân và anh
đã bán đi để mua sắm quần áo. Chúa cho anh quả táo
thứ mười để anh ta có gì dâng lại cho Chúa, hầu tỏ
lòng biết ơn đối với chín quả táo kia.
Người
đàn ông đó cầm quả táo thứ mười lên và ngắm nghía
cẩn thận. Quả táo đó xem ra đỏ hồng và có nhiều
nước hơn tất cả những quả táo khác. Tự trong thâm
tâm, anh ta biết rằng đó là quả táo mà Chúa mong chờ
anh ta sử dụng như tặng phẩm để biết ơn Ngài đối
với chín quả táo kia.
Nhưng
quả táo thứ mười ngon lành hơn tất cả những quả táo
khác. Người đó lý luận rằng Chúa có tất cả những
quả táo khác trên trần thế nên anh đã ăn quả táo thứ
mười và dâng lại cho Chúa cái hột mà thôi.
Vô
ơn là một trong những tội gớm ghiếc nhất. Vô ơn làm
cho người ta cảm thấy được quyền sử dụng mọi sự,
cho mọi việc xảy tới đều là tự nhiên, tự cảm thấy
mình vô dụng và hạ thấp cảm quan tự trọng của mình.
Không biết ơn Chúa, không biết ơn người thì cuộc đời
trở nên trống rỗng, hời hợt và vô vị. Không biết
cám ơn thì chính cuộc sống trở thành bạc bẽo, chán
chường. Trái lại, biết ơn là một trong những sự việc
đẹp nhất trên đời.
Linh
Mục Vincent Travers, OP
